Danh mục

Hồ sơ năng lực công ty

Công Ty TNHH SX-TM & TTNT Kim Duy Phát : Chuyên cung cấp và thi công Ván Sàn Công Nghiệp, Ván Sàn Tự Nhiên, Sàn Gỗ Công Nghiệp, Công Ty bắt đầu thành lập từ tháng 6 /2008, nhưng quá trình thành lập chúng tôi đã bắt đầu hoạt động từ năm 2006 dưới danh nghĩa là Thầu Phụ cho các công ty Xây Dựng và TTNT, Qua quá trình hoạt động, chúng tôi xin cảm ơn những cá nhân , công ty đồng hành cùng chúng tôi trong xuốt chặng đường cho đến năm 2011 này

Thống kê

  • Lượt truy cập 1,473,994
  • Khách ghé thăm
  • Hôm nay 990
    Trong tuần 5653
    Paner-QC Phongthuy (left) QC WEB NOI THAT Nam linh chi rung Thi công ván sàn

    NHÂN TƯỚNG HỌC

    Sách có câu: 'Họa hổ, hoạ bì nan họa cốt. Tri nhân, tri diện bất tri tâm'. Nghĩa là vẽ con cọp, chỉ vẽ bên ngoài da không thể nào vẽ xương bên trong. Biết người, biết hình tướng bên ngoài chứ không thể biết được trong lòng, đừng 'nhìn mặt mà bắt hình dung'. Ở đời không thể xét đoán một người theo hình tướng của họ. Ngụ ý khuyên hãy cẩn trọng, đề phòng kẻ có lòng dạ tiểu nhân trong hình dáng của một quân tử.

    Trái lê bề ngoài thấy đẹp nhưng bên trong ruột lại bị hư thúi, còn trái dưa bề ngoài bị trầy trụa xấu xí nhưng khi xẻ ra lại nhiều nước và ngọt. Bởi thế trái cây cũng giống như con người cho nên không thể nhìn bề ngoài mà đánh giá. Kẻ có dung mạo cao sang nhưng trong lòng lại đê tiện thì tốt ở chỗ nào? Còn người dị mạo, tánh thẳng như ruột ngựa lại tốt bụng thì đâu phải là người xấu?

    Nói như thế không có nghĩa là những người có dung mạo đẹp đều là người xấu! Khoa tướng học sau này cho thấy người ta có thể nhìn con người qua tướng mạo, hoặc nghe giọng nói, cũng có thể biết được tánh tình theo lập luận một cách khoa học.

    Cổ nhân có nói: 'Tướng tự tâm sinh, tướng tùy tâm diệt'. Tướng mạo con người đẹp hay xấu đều do tâm sinh hay diệt. Câu này có ngụ ý khuyên người đời nên tu dưỡng tâm tánh. Tu tâm là phương pháp sửa đổi lỗi lầm cao minh nhất. Tâm có tu dưỡng thì được thanh tịnh, khi tâm thanh tịnh thì tà niệm khó khởi động hoặc nếu như tà niệm đã khởi thì cũng có sức giác chiếu của tâm mà tiêu diệt nó.

    Làm người ai không phạm lầm lỗi? Kẻ nào tự hào rằng mình là người không có lỗi lầm thì kẻ đó mới chính là ngu xuẩn nhất. Tội lỗi! Tội lỗi! Chúng ta đều là 'phàm phu tục tử', cũng có đầy lầm lỗi như lông trên mình con nhím. Tại vì không chịu nhìn lại và đếm từng lỗi lầm mà thôi!

    Muốn tránh bớt và cải đổi từng lỗi lầm thì phải khiêm cung độ lượng, khoan dung với người và tự nghiêm khắc với chính mình. Khi đưa ra một đối sách hay một kế hoạch gì mà không được người khác hưởng ứng thì nên nhìn lại vấn đề. Một là vì đạo đức của mình còn thiếu. Hai là tâm tánh mình chưa được tốt nên không đủ sức cảm động đến lòng người. Chớ đừng giận dữ mà động ác tâm sinh ra cãi vã, gây gổ với người.

    Tâm không động niệm thì không tạo ra nghiệp chướng. Nhất tâm nhất ý khởi nghiệp lành, hành thiện thì không có ác niệm nào có thể xen vào khởi động tâm mà tạo nghiệp ác được. Cho nên việc hành thiện nếu xuất phát từ lòng thành cứu giúp và tôn trọng người thì đó là chánh tâm. Còn nếu làm việc thiện để lấy lòng người, có ý đồ hay có ý coi thường hoặc chỉ để đùa vui thì đó là tà tâm vậy!

    Tóm lại, hai câu 'Họa hổ, hoạ bì nan họa cốt. Tri nhân, tri diện bất tri tâm'và 'Tướng tự tâm sinh, tướng tùy tâm diệt' có điểm dị đồng, con nên suy nghiệm để học hỏi thêm.

    * * *

    Ấn tướng là những nét hoặc dấu có sẵn trên cơ thể con người khi mới chào đời. Chẳng hạn như một cái bớt sau mông, hai ba nốt ruồi son trước ngực hoặc dáng điệu đi đứng hay giọng nói tiếng cười... đều là ấn tướng riêng biệt của mỗi con người.

    Khuôn mặt là nơi mà người ta nhìn vào khí sắc theo ngũ hành để luận đoán sự vui buồn hay lo âu, bệnh hoạn, nạn tai của mỗi người:

    - Kim, màu trắng bệch: Bệnh hoạn, mất ngủ. Khổ vì tình.
    - Mộc, màu xám xanh: Kinh sợ, mệt mõi. Bị nạn tai.
    - Thủy, màu xám đen: Bệnh nặng, lo rầu. Bị mất tiền.
    - Hỏa, màu ửng đỏ: Nóng giận, tức tối. Bị hỏa nạn.
    - Thổ, màu vàng cam: Vui vẻ, có tiền. Được hạnh phúc.
    Bên cạnh việc xem khí sắc, người ta còn dựa vào những dấu vết trên gương mặt để luận cát hung họa phúc theo Ám tướng.

    Ám tướng thường xuất hiện ở trên tam đình. Ngoài ra nó còn có trong giọng nói tiếng cười của mỗi người. Ám có nghĩa là ngầm, khi ẩn khi hiện, chớ không phải là u tối.

    Xin nhắc lại, Tam đình là từ ngữ mà khoa tướng mệnh dùng để chỉ các bộ phận cũng như những vị trí nằm trên khuôn mặt, từ đó người xưa luận đoán để biết tướng phú quý hay bần tiện, gian ác hay hiền lành, cực khổ hay sung sướng... Người ta chia nó ra làm ba phần: thượng đình, trung đình, hạ đình và luận tốt xấu như sau:

    * Thượng đình: từ chân tóc xuống đến chân mày, ứng Thiên, xem trán.
    - Người có trán cao rộng, rất tốt (quý tướng).
    - Người có trán thấp nhưng rộng được coi là bình thường (nhân tướng).
    - Người có trán hẹp, méo hay khuyết bị xem là xấu (khắc tướng).

    * Trung đình: từ chân mày xuống đến mũi, ứng Nhân, xem mũi.
    - Người có mũi cao, dầy, ngay ngắn và hai lỗ mũi kín thì số được trường thọ, giàu sang, phú quý (tâm tướng). Những người này thường có lòng tốt, luôn giúp người.
    - Người có mũi ngắn, xẹp, bị cô đơn suốt đời cực khổ (bần tướng) và chỉ thích sống cho cá nhân mình.
    - Người có mũi bị cụt, gẫy, phần nhiều yểu mạng hoặc vướng vòng lao lý (mạt tướng), thường làm những điều trái với nhân nghĩa.

    * Hạ đình: từ nhân trung xuống đến cằm, ứng với Địa, xem cằm.
    - Người có cằm đầy đặn, bằng phẳng, chỉnh tề thì số được giàu sang, phú quý (hảo tướng) và có nhiều bè bạn.
    - Người có cằm nhỏ, nhọn, lệch thì cuộc đời truân chuyên vất vả và về già gặp nghèo khó (hung tướng). Ít có bạn bè.

    Ám tướng:

    Ám tướng là dấu ẩn hiện để báo trước sự may rủi quan trọng sắp sửa xảy đến bất ngờ. Nó chỉ có hiệu lực gây ra tác dụng trong vòng một hai tuần cho đến sáu tháng mà thôi!

    Các nhà tướng số cho rằng Ám tướng là hiện tượng do tạo hóa sắp xếp, cho nó hiện ra để báo hiệu trước khi ban thưởng hay trừng phạt một người nào đó.

    Ảnh hưởng xấu:

    * Thượng đình: Tự nhiên trên vầng trán có một quầng hơi đen hay một khoảng tối, khi ẩn khi hiện bên dưới làn da, hơi khó phân biệt, phải nhìn kỹ càng mới thấy, đó là điềm xấu:
    - Nếu nó lệch về phía phải thì đó là điềm báo trước sẽ bị thương tật vì tai nạn hoặc bị vướng vào vòng tù tội.
    - Nếu quầng đen này nằm lệch bên trái là điềm báo tử vì nạn tai hay bệnh hoạn.
    - Nếu nó lớn và che lấp cả vầng trán thì đó là điềm báo trước rằng cả gia đình sẽ bị nạn một lượt (vợ chồng con cái).

    Hai con mắt có quầng thâm đen là bị bệnh hoạn hay mất ngủ, không phải là ám tướng. Nhưng nếu quá hai tuần mà hai quầng thâm không biến mất thì nên cẩn thận trong việc lái xe hay đi qua sông biển.

    * Trung đình:
    - Nếu quầng đen nằm giữa ấn đường (giữa đôi lông mày) hay sơn căn thì là điềm trong thân tộc có người 'về bên kia thế giới'.
    - Nếu nó xuất hiện trên gò má bên phải thì đó là điềm báo bị tai nạn xe cộ, té từ trên cao xuống đất hay rớt xuống sông. Tuy không mất mạng nhưng cũng bị thương tật hoặc mất trí nhớ.
    - Nếu nó nằm tại gò má trái là điềm báo sắp bị người yêu bỏ rơi. Nếu đã lập gia đình thì bị người 'bạn đời' phản bội.
    - Trong tròng trắng của con mắt tự nhiên nổi một chấm đen nhỏ là điềm báo trước sự lỗ lã trong công ăn chuyện làm hoặc bị mất việc bất ngờ.

    * Hạ đình: Quầng đen hay khoảng tối này thường xuất hiện ở chính giữa cằm hoặc hai bên mép của đôi môi:
    - Nếu xuất hiện giữa cằm là điềm báo sẽ bị gây gổ, ấu đả với người và có đổ máu. Nên cẩn trọng bằng cách tránh xa chỗ đông người và đừng cãi vã với bất cứ ai trong thời gian bị ám tướng này.
    - Nếu nó nằm ở mép môi bên phải thì sẽ có tin buồn từ phương xa.
    - Nếu nó nằm ở mép môi bên trái thì em hoặc con sẽ 'lìa đời'.

    Ảnh hưởng tốt

    * Thượng đình: Tự nhiên trên vầng trán có một khoảng sáng trắng, khi ẩn khi hiện bên dưới làn da thì đó là điềm tốt:
    - Nếu nó lệch về phía phải là điềm công danh hiển đạt hoặc thăng quan tiến chức.
    - Nếu khoảng sáng này nằm lệch bên trái là điềm phát tài như trúng số hoặc có được số tiền lớn do người khác bất ngờ trao tặng.
    - Nếu nó lớn và bao trùm cả vầng trán thì đó là điềm may mắn vui tươi cho cả gia đình.

    * Trung đình:
    - Nếu khoảng sáng nằm giữa ấn đường (giữa đôi lông mày) hay sơn căn thì là điềm vui gia tăng nhân khẩu hay sanh quý tử.
    - Nếu nó xuất hiện trên gò má bên phải thì đó là điềm có quý nhân mang tài lộc đến nhà.
    - Nếu nó nằm tại gò má trái là điềm đỗ đạt khi thi cử, hôn nhân thành tựu, gặp lại bạn hiền.

    Ngoài ra khoảng sáng xuất hiện nơi khác ở trung đình đều mang lại nguồn vui tươi và hạnh phúc.

    * Hạ đình: Khoảng sáng này cũng xuất hiện ở chính giữa cằm hoặc hai bên mép của đôi môi:
    - Nếu xuất hiện dưới cằm là điềm thuận lợi cho việc làm ăn, cơ hội tốt để tạo dựng sự nghiệp.
    - Nếu nó nằm ở mép môi bên phải thì là điềm sắp có thêm con cháu trong nhà.
    - Nếu nó nằm ở mép môi bên trái thì sẽ có dịp đi du lịch nước ngoài hoặc đi xa thăm người thân thương.

    Ảnh hưởng tốt xấu

    * Giọng nói:
    Giọng nói của con người đều bình thường hàng ngày, nhưng bỗng nhiên một hôm nào đó tự nhiên đổi khác mặc dù không bị đau ốm, giọng nói cao hơn hoặc trầm xuống thì đó chính là ám tướng. Ám tướng của giọng nói được giải đoán như sau:
    - Nếu giọng cao hơn trước thì đó là điềm báo sẽ mất mát của cải vì bị trộm cắp.
    - Nếu giọng trầm xuống là điềm bị trở ngại lớn về công ăn việc làm.
    - Nếu bỗng dưng bị ngượng ngập hay ngập ngừng, phát âm thường bị lẹo lưỡi là điềm sắp được của hoạnh tài.

    Lưu ý: Thay đổi giọng nói khi bị bệnh cảm cúm, ho... thì đó không phải là ám tướng.

    * Tiếng cười:
    Khi vui người ta thường tươi cười, tiếng cười của mỗi con người đều khác nhau. Có người cười lớn tiếng, có người cười với tiếng phát ra vừa phải và cũng có người khi cười chỉ nhếch mép môi đó là cười theo bẩm sinh. Nhưng nếu một ngày nào tiếng cười tự nhiên thay đổi thì đó mới thuộc về ám tướng.
    - Nếu tiếng cười gượng gạo thiếu hơi là điềm báo trước sắp bị đau ốm, thất thoát tiền bạc, bị nạn tai hoặc vị trí đứng trong công việc làm sắp bị ngã đổ.
    - Nếu tiếng cười lớn hơn và dài hơn là điềm may mắn báo trước công danh sẽ thành đạt, cơ nghiệp sắp thăng tiến và sắp có của hoạnh tài.

    Còn tự mình sửa đổi tiếng cười thì đó không phải là ám tướng.

    Lời kết
    Nhớ bài thơ thầy thường ngâm:

    'Sách xưa, chép dễ sai nào,
    'Tướng tùy tâm diệt'nhớ mau sửa mình!
    Còn câu 'tướng tự tâm sinh',
    Chữ tâm kia mới chứng minh rõ tường.
    Tâm mình, chính chính đường đường,
    Tướng yểu, lại được thọ trường khó chi.
    Cho dù sách cổ đã ghi,
    Vẫn còn tùy diệt vẫn còn tùy sinh.
    Nên, hư do ở tâm mình,
    Hãy lo bồi đắp tình thương giúp người.
    Diệt sinh dù đã đến nơi,
    Nghiệp duyên nhân quả, nợ đời còn vương!
    Trăm năm, dù có vô thường,
    Nhưng tình nghĩa mãi ngát hương đất trời...'

    ỨNG DỤNG CỦA ÂM DƯƠNG TRONG TƯỚNG HỌC

    Âm Dương trong nhân tướng học không có tính cách cứng nhắc như thế nhân vẫn tưởng mà lại rất tương đối. Ngửa lên gọi là Dương, úp xuống gọi là Âm, cứng là Dương, mềm là Âm …….Nói một cách tổng quát thì Trời có Âm Dương. Đàn ông được xem là Dương, đàn bà là Âm, nhưng chỉ là điều khái lược. Trong mỗi con người lại cũng có phân biệt Âm và Dương nữa.

    Toàn thể thân thể đàn ông là Âm, nhưng bộ phận sinh dục lại là Dương nên có tên là dương vật. Toàn thể đàn bà là Dương, nhưng bộ phận sinh dục lại là Âm nên mới có danh là âm hộ.

    Xương được coi là Dương, thịt được coi là Âm
    Phía mặt bên trái là Dương, phía mặt bên phải là Âm
    Phía trên của khuôn mặt ( kể từ chính giữa thần mũi ) thuộc Dương, phía dưới thuộc Âm.
    Phần thân trước là Dương, phần thân sau là Âm
    Trong khu vực thuộc mắt, phần trên là Dương, phần dưới coi là Âm, mắt trái là Dương, mắt phải là Âm
    Những phần lồi lõm của xương khuôn mặt là Dương, những phần trũng xuống coi là Âm.
    Dương thì lộ liễu và hướng lên. Âm thì ẩn tàng và hướng xuống. Dương cốt ở an hoà, Âm cốt ngay ngắn, Dương chủ về cứng rắn, Âm chủ về mềm mại.

    Âm Dương trong mỗi con người cần phải Hòa, phải Thuận, Hoà có nghĩa là xương ngay ngắn, không lệch, không cong, thần khí thanh nhã. Thuận là thịt phải được phân bố đều đặn khắp châu thân. Âm Dương thuận hoà chủ về phúc thọ.

    Nếu như xương lộ mà không ngay ngắn, thịt chỗ nhiều chỗ ít không hợp lẽ tự nhiên ( chẳng hạn bộ phận này quá nhiều thịt, bộ phận kia lại quá cằn cỗi ) thì gọi là Âm Dương không thuận hoà. Hoặc Âm thịnh Dương suy ( thịt nhiều mà bệu, xương lại nhỏ và yếu, không cân xứng ) hoặc Dương cường Âm nhược ( cốt lộ, thịt ít ) đều là các tướng phản lại nguyên tắc Âm Dương thuận hoà: chủ về hung hiểm bất tường.

    Nói một cách tổng quát, vô luận nam nữ, trong mỗi con người ( hình tướng, tính cách, khí sắc, thanh âm, phần vô hình cũng như phần hữu hình ) đều bị nguyên lý Âm Dương chi phối.

    Đàn ông bản chất vốn Dương nhưng cần phải có Âm thích nghi điều hoà. Đàn bà vốn thuộc Âm nhưng phải có Dương để phụ giúp. Nếu khống thế, đàn ông chỉ có thể Dương thuần mà không có Âm chất thì sẽ mất sự khống chế cần thiết, đàn bà chỉ có Âm nhung mà không có Dương chất thêm vào thì trở thành quá mềm yếu và không tự tiến triển được.

    Tuy nhiên dù Dương thuận phải có Âm chất để điều hoà cho thích nghi nhưng Âm không được lấn át phần Dương. Nếu Âm chất thái quá người ta gọi là Dương sai.

    Âm nhu tuy phải cần Dương cương để tiết giảm phần xấu và phát huy phần tốt nhưng nếu phần Dương lấn át hẳn phần Âm ( vốn là phần căn bản ) thì trường hợp đó mệnh danh là Âm thác.

    Nguyên tắc tổng quát trên áp dụng cho tất cả các bộ vị trọng yếu trong con người. Nghĩa là các bộ vị không được vi phạm các điều cấm kỵ của nguyên lý Âm Dương thích nghi. Nói khác đi, không được phạm vào Âm thác hoặc Dương sai. Đi sâu vào phần chi tiết ta phân biệt :

    a ) Dương hoà :

    Tính cách Dương mạnh mẽ nhưng được tiết chế đúng mức cần thiết thì gọi là Dương hoà, Dương hoà bao gồm :

    -Đầu tròn, đỉnh đầu bằng phẳng

    -Đầu hơi có góc cạnh, mặt hơi vuông vức, trán có xương tròn nổi lên rất rõ

    -Ngũ nhạc nổi nhưng không quá lộ liễu, Sơn căn nổi khá cao gần ăn thẳng lên Aán đường

    -Lông mày mọc xếch lên cao và có uy lực, lông mày hơi có góc cạnh ( hình thù lông mày gập cong lại như hình chữ, chứ không cong như hình bán nguyệt hoặc thẳng như chữ )

    -Sợi lông mày hơi hướng về phía trên

    -Mắt có chiều dài rõ rệt và có tụ thần

    -Sắc diện hoà ái, chẳng cần phải lập uy mà vẫn có vẻ oai nghiêm tự nhiên

    -Nói năng mau chậm thích nghi với từng câu chuyện, tư tưởng khoáng đạt, lâm sự quyết đoán chuẩn xác, xử trí quang minh, đi đứng thung dung .


    b ) Âm thuận

    Tính cách Âm rất rõ ràng nhưng không quá ủy mị hèn yếu thì gọi là Âm thuận. Được coi là Âm thuận khi :

    -Đầu tròn, mặt hơi vuông nhưng vẫn không xoá hẳn được những nét tròn trịa
    -Ngũ nhạc đều có dáng phảng phất hình tròn ( nhưng không nổi bật các nét tròn đó )
    -Sơn căn mạnh mẽ có thế. Aán đướng bằng phẳng, rộng
    -Lông mày hơi cong mà mắt lại hơi dài ( không được quá dài )
    -Tiếng nói hơi nhỏ nhưng âm thanh rổn rản trong trẻo
    -Nói năng từ tốn, nhưng không chậm, phản ứng không nhanh nhưng không quá trễ hoặc lỳ lợm
    -Sắc diện hoà nhã khiến người ngoài dễ sinh thiện cả
    -Xử sự ôn hoà

    c ) Kháng Dương

    Tính cách Dương quá mạnh không có sự tiết chế đúng mức thì gọi là Kháng Dương. Các chỉ dấu của Kháng Dương bao gồm :

    -Đầu tròn nhưng đỉnh đầu nhọn
    -Mặt có những bộ vị nổi tròn thành từng cục
    -Ngũ nhạc nổi tròn mà đầu có dạng nhọn, nhỏ
    -Lông mày ngắn mà cong vòng hoặc ngắn mà thế của mày lại hướng lên
    -Mắt lồi và tia mắt long lanh
    -Tai nhọn và dựng đứng
    -Tiếng nói lớn nhưng giọng điệu quê kệch hoặc giọng rè
    -Tính tình nóng nảy thô bạo, xử sự sơ xuất, không nghĩ trước, không lo sau khiến người quan sát thoáng qua đã nhận được ngay sự thô lỗ .

    d ) Cô Âm

    Chỉ có những cách Âm thuần túy mà không có Dương tính để hỗ trợ thì gọi là Cô Âm. Đặc tính này được phát hiện ra ngoài qua các dấu hiệu sau đây :
    -Toàn thể đầu và khuôn mặt đều chỉ có hình vuông, hoặc thiên về hình vuông, hoặc đầu lớn mà khuôn mặt lại quá nhỏ không tương xứng
    -Chính diện thì nhìn thấy bằng phẳng mà trắc diện lại thấy ở phần giữa lõm xuống
    -Mắt sâu mà lông mày mọc lan xuống tận bờ mắt hoặc mắt sâu mà xương lông mày thô, hoặc lông mày quá đậm mà ngắn
    -Râu ria quá râm rạp, không thích nghi với tóc
    -Tiếng nói như có vẻ khò khè ở cuống họng, điệu nói chậm rãi mà trong đó lại xen kẽ âm thanh chói tai hoặc thanh mà đứt đoạn
    -Sắc diện lúc nào cũng có vẻ u uất, xử sự quá tính toán, cân nhắc khiến người ngoài thoáng thấy đã nhận ra ngay là con người ác hiểm.

    e ) Âm thác, Dương sai

    Bản chất căn bản là Âm nhưng pha trộn quá nhiều Dương tính khiến phần Âm trở thành thứ yếu thì gọi là Âm thác. Ngược lạ , bản chất căn bản là Dương mà Dương tính quá yếu khiến Âm chất lấn át rõ rệt thì gọi là Dương sai. Dưới đây là các dấu hiệu bề ngoài cảu các hiện tượng trên

    -Đầu tròn thuộc Dương, mặt vuông thuộc Âm, phía trước mặt thuộc Dương, phía sau gáy ( ót ) thuộc Âm cho nên đầu lớn mặt nhỏ, phía trước lớn mà phía sau nhỏ thì gọi là Dương sai
    -Đầu vuông thuộc Âm, mặt tròn thuộc Dương, nếu như hai phần đó quá sai lệch thì gọi là Âm thác
    -Phần lồi trên khuôn mặt thuộc Dương, phần lõm trên khuôn mặt thuộc Âm . Do đó, nếu Đông Tây Nam Bắc Nhạc nảy nở, cao ráo mà Trung nhạc lại trũng xuống thì gọi là Dương sa . Trái lạ , bốn Nhạc phụ tuỳ đều trũng xuống hoặc bị phá hãm chỉ có Trung nhạc nổi cao một mình thì gọi là Âm thác
    -Chỉ có xương mà không có thịt, mắt lộ mà không có lông mày người lớn, tiếng nhỏ gọi là Dương sai
    -Có quá nhiều thịt mà thiếu xương, lông mày rậm rạp lam xuống bờ mắt, chân tóc mọc thấp, Thiên thương hẹp, nhiều râu ria mà giọng nói khô khan ……đều được mệnh danh là Âm thác
    -Mặt tuy lớn, nhưng sắc ảm đạm, thân hình tuy có vẻ nam tính mà bước chân lệch lạc ẻo lả như con gái thì gọi là Dương sa . Thân hình nữ mà cử chỉ mạnh bạo cứng cỏi như nam giới thì gọi là Âm thác

    Tóm lại, vấn đề Âm thác, Dương sai rất phức tạp, khó mà lĩnh hội toàn vẹn nếu không có kiến giải sâu rộng, quan sát tinh tế. Chương này chú trọng đặc biệt đến hai nguyên tắc căn bản của Dương sai, Âm thác như sau :

    1 - Đàn ông được gọi là thuần Dương mà lẫn lộn cá tính phụ nữ ( bất kể về phương diện gì : đi, đứng, ăn, nói …..) khá rõ thì gọi là Chính Dương sai

    2 - Đàn bà được coi là thuần Âm nếu, pha trộn nam tính ( dù về phương diện gì cũng vậy ) quá lộ liễu thì gọi là Chính Âm thác

    Từ hai nguyên tắc căn bản trên, ta đi đến bốn hệ luận :

    a ) Bất kể nam, nữ đều lấy đầu, âm thanh, cốt cách tượng trưng cho Dương chất. Cho nên, không cần biết thân hình lớn hay nhỏ, điểm căn bản là phải lấy cốt cách trầm ổn, vững chãi, tiếng nói trong trẻo, rõ ràng có tiếng vang làm chính. Được như thế là cát tướng
    Tiếng khô khan, âm vận không có hoặc ngắn ngủi thì dầu thân hình lớn hay nhỏ đều không đáng kể gì tới vì đó là hung tướng, tượng trưng cho Dương sai.

    b ) Bất kể nam nữ, đếu lấy khuôn mặt tượng trưng cho Dương, cho nên Ngũ nhạc nổi rõ nhưng không quá lộ liễu thô bỉ, râu tóc và lông mày thích nghi tương xứng là dấu hiệu cát tướng. Ngũ nhạc phá hãm, râu ria và lông mày quá đậm là hung tướng vì đó bị gọi là Âm thác

    c ) Thân hình to lớn khôi ngô mà khí phách nhỏ hẹp, xử sự thô lỗ, âm hiểm tàn nhẫn, chấp nể tiểu tiết, không biết quyền biến, đó là Dương không khống chế được Âm nên gọi là Dương sai

    d ) Người nhỏ mà xử sự xô bồ không có giới hạn, khí phách cuồng ngạo chỉ biết tiến mà không biết thoái lui khi cần thiết thì đó là Âm không kiềm chế được Dương nên gọi là âm thác

    TƯƠNG QUAN GIỮA SẮC VÀ CON NGƯỜI

    A) Về mặt kiện khang

    1 - Nguyên tắc quan sát

    Quan sát màu da để biết một cá nhân bị bệnh cần chú ý đến hai điều cấm kỵ sau đây, được gọi là ngũ kỵ và ngũ tuyệt


    a ) NGŨ KỴ

    -Kỵ môi xám mà lưỡi đen
    -Kỵ yết hầu nổi màu đen hoặc đỏ mà ngày thường khoẻ mạnh hay khi mới bị bệnh chưa thấy hai màu đó xuất hiện ở yết hầu
    -Kỵ sắc đen xạm hiện ra ở thiên thương và Địa các
    -Kỵ khoé miệng có màu vàng nghệ
    -Kỵ lòng bàn tay bỗng nhiên khô cằn

    Lúc chưa bị bệnh, gặp một trong các màu trên ở các bộ vị kể trên thì chắc chắn khó tránh bị mắc bệnh. Nếu đã bị bệnh mà phạm vào một hay nhiều điều cấm kỵ trên thì đó là dấu hiệu bệnh chuyển từ nhẹ sang nặng. Nếu phạm vào cả năm điều trên thì xác suất càng cao hơn nữa.

    b ) NGŨ TUYỆT

    Trong lúc bệnh mà gặp một trong năm tuyệt chứng sau đây thì khó mong mau lành, sắc càng rõ thì hậu quả càng tai hại. Nếu đồng thời hội đủ cả Ngũ tuyệt thì chắc chắn không tránh khỏi tuyệt mạng vì cả Ngũ tạng đều kiệt lực.

    -Tâm tuyệt : Hai môi túm cong lại, màu môi đen và khô, chủ về tim kiệt sức, bộ máy tuần hoàn sắp ngưng hoạt động

    -Can tuyệt : Bệnh nhân cứng miệng há ra được nhưng không ngậm lại được, vành trong mắt nốt ruồi sắc đen là dấu hiệu cho biết gan đã kiệt

    -Tỳ tuyệt : Môi xám xanh mà thu hẹp lại , sắc mặt vàng vọt thê lương là dấu hiệu cho biết khí ở tỳ vị sắp tuyệt

    -Phế tuyệt : Mũi xạm đen, da mặt khô xạm là dấu hiệu ở phổi đã cạn

    -Thận tuyệt : Hai tai khô, xạm đen đột nhiên bị ù tai hoặc điếc hẳn nướu răng đổ máu và răng khô là được khí ở thận đã dứt.


    2 - Các loại bệnh và dấu hiệu bệnh

    Dưới đây là lược huật phương pháp quan sát màu sắc một số bộ vị có thể biết được căn nguyên phát sinh bệnh trạng cùng là dự đoán phần nào được sự chuyển biến của bệnh.

    Bệnh ở tim và hệ thống tuần hoàn: Lông mày nhăn nheo, Sơn căn nhỏ hẹp, hai mắt cũng như khu vực quanh mắt có khí sắc đen xạm hoặc xanh pha đen.

    Bệnh ở gan: Hai tròng mắt có gân vàng pha hồng, khí sắc khô xạm

    Bệnh ở khu vực tỳ vị: Sắc mặt ( Bao gồm tất cả mọi bộ vị ) xanh pha vàng thuộc loại tà sắc, thần khí trì trệ, suy nhược, môi trắng bệnh ăn uống kém

    Bệnh ở bộ máy hô hấp: Lưỡng quyền xạm đen và khô cằn, lúc nóng, lúc lạnh thất thường

    Bệnh ở thận: Sắc mặt đen xạm, đặc biệt là hai tai và trán đen hơn lúc bình thường, mục quang hôn ám

    Chứng khật khùng: Mắt lồi, trong mắt có sắc vàng, phía dưới mắt có sắc trắng như màu đất mốc, đó là dấu hiệu kẻ có bản chất nóng nảy, mất tự chủ như Tôn Thất Thuyết trong lịch sử Việt Nam cuối thể kỷ 19

    Chứng thổ huyết: Sơn căn nhỏ, gầy và trơ xương, mắt có sắc xanh xạm

    Chứng hoại huyết: Da mặt và tứ chi sắc vàng pha xanh và khô, râu ria đỏ như râu ngô ( mà bản chất không phải là loại Hoả hình ) tóc rụng nhiều

    Chứng thận suy: Phần lệ đường bị ám đen, sắc mặt ảm đạm, mắt trũng sâu là dấu hiệu của kẻ trong tuổi thanh xuân đã hoang dâm vô độ, nên thận suy yếu và hiện ra các khí sắc kể trên tại các bộ vị dẫn thượng

    Dấu hiệu bệnh nặng, nhưng sẽ thoát khỏi hiểm nghèo: Mặc dầu bệnh trạng ra sao mà nhãn quang thanh thản, linh hoạt, còn ngươi đen láy, có thần khí, chắc chắn không có gì nguy hiểm đến tính mạng

    Triệu chứng sắp chết: Hai tai, miệng ( kể cả khu vực xung quanh ) đều xám đen và khô, hai mắt đờ đẫn, nhãn cầu gần như ngưng đọng là dấu hiệu sắp sửa tắt thở

    Dấu hiệu sắp bị bệnh: Sơn căn xám đen, thiên đình có vết xám và lan rộng dần ra xung quanh, Chuẩn đầu ám đen và khô

    B ) Về mặt mạng vận

    1 - Các trạng thái biến thiên của thời vận

    Trạng thái thời vận cực thịnh: Trạng thái vận khí cực thịnh khí sắc biểu hiện vận khí cực thịnh gồm có :

    -Mạng môn ( Aán đường ) chuẩn đầu đều màu hồng

    -Án đường sáng sủa

    -Chuẩn đầu hiện rõ màu tía nhạt pha lẫn màu vàng nhạt trông sáng láng

    -Râu, lông mày tươi đẹp, có thần


    Có một trong các biểu hiện trên là dấu hiệu của thời cực vận cực thịnh. Làm quan sẽ thăng tiến, đi buôn sẽ thu hoạch tối đa, càng hoạt động càng phát huy hảo sự

    a ) Trạng thái thời vận đứng vững lâu dài :

    Biểu hiện bề ngoài của loại vận khí này là :
    -Nhãn thần sung túc sáng sủa
    -Hai tụng lưỡng quyền Aán đường, chuẩn đầu, quanh năm tươi nhuận, không bị hôn ám, lòng bàn tay hồng hào hoặc mịn màng

    Có những dấu hiệu trên thì diện mạo, bộ vị đôi lúc bị hôn ám bề ngoài nhưng ẩn hiện sắc sáng vẻ thanh ở trong là vận khí vững vàng thì sự hôn ám của các bộ vị khác trên mặt không đủ gây trở ngại cho tiến trình phát đạt.
    Người có loại thời vận trên mưu sự gì cũng được toại nguyện làm điều gì cũng có lợi.

    b ) Trạng thái thời vận bắt đầu tu:

    Khi vận khí bắt đầu tụ sắc thì đó là dấu hiệu báo trước tài lộc sắp tới, càng hoạt động càng tốt đẹp thêm. Ví dụ khi gặp các trạng thái sau :

    - Sắc mặt hôn ám, nhưng gián đài, đình úy sáng sủa, có sắc hơi vàng lạt phương lẫn màu màu tía lạt.

    - Mặt mũi trông hôn ám, nhưng nhìn kỹ thì lại có ẩn tàng tươi mịn bề trong, lòng trắng của mắt không có tia máu, râu tóc tươi đẹp. Trong trường hợp này, bất kể là màu sắc gì mà kẻ tinh mắt thấy rõ là có khí sắc thì chắc chắn tốt sắp phát hiện, tạo thành trạng thái thời vận toàn thịnh trong tương lai.

    c ) Trạng thái thời vận sắp biến chuyển từ xấu tới xa ra tốt:

    Nói cho đúng, đây là loại vận khí giúp ta biến hung thành kiết, gặp dữ hoá lành, tuy gặp cảnh khó khăn nhưng rốt cuộc vẫn lướt qua được. Dấu hiệu bề ngoài của trạng thái này là:

    - Sắc mặt hôn ám nhưng ánh mắt sáng sủa

    - Sắc mặt xanh đen, nhưng chuẩn đầu có màu vàng lạt tươi mịn

    - Sắc mặt đỏ nhưng có pha lẫn màu vàng lạt (hoặc hồng) tươi mịn

    Người có trạng thái thần sắc kể trên thì tuy gặp lúc thất bại nhưng sau đây, thất bại lại trở nên thành công, thất y trở thành đắc ý.

    d ) Trạng thái thời vận bắt đầu xấu:

    Dấu hiệu của trạng thái vận khí bắt đầu xấu là khí sắc trên mặt không sáng sủa đều, hoặc trông sáng không ra sáng, trông hôn ám không ra hẳn hôn ám, hoặc câm có râu trắng hiện ra, hoặc chuẩn đầu hiện ra màu hồng đâm thuần tuý không có màu vàng lạt đi kèm.

    Gặp trạng thái trên, nên cố giữ mức độ bình thường hoặc bảo trì hiện tại, tuyệt đối không nên vọng động vì càng vọng động thì càng đi đến hậu quả xấu hơn.

    đ ) Trạng thái thời vận sắp tàn lụi: Trạng thái này là giai đoạn kế tiếp của trạng thái kể trên, dấu hiệu bề ngoài có thể nhận thấy là :

    - Thoáng trông mặt mũi rạng rỡ, nhưng nhìn kỹ thấy lác đác có vài chỗ sắc thái tạp loạn, không toàn vẹn

    - Mặt sáng nhưng hai tai và chuẩn đầu ám đen hoặc không sáng, ánh mắt mờ yếu

    - Mặt trông sáng láng nhưng trắng bệch không có vẻ chân khí ẩn tàng. Đây là trạng thái được tướng học mệnh danh là hữu sắc vô khí

    Gặp loại khí sắc đột nhiên xuất hiện chỉ nên an phận thủ thường không nên vong động, cố cưỡng lại chỉ nghĩ đến thất bại vô ích.

    e ) Trạng thái thời vận xấu:

    - Sắc mặt thoáng trông có vẻ sáng sủa nhưng nhìn kỹ thì thấy khô và hai mắt hôn ám

    - Da mặt đen xạm khô khan

    - Khí sắc biến đổi thất thường ( hoặc một vài bữa, hoặc năm sáu ngày ) không phải vì bệnh trạng mà tự nhiên phát hiện

    Đây là trạng thái khí sắc xấu nhất, tuyệt đối không nên mưu sự, cầu danh trong giai đoạn có loại khí sắc kể trên xuất hiện.

    1) Tương quan giữa vài nét tướng mặt và cơ thể

    Đời Đường (618 - 907), Nhất Hạnh Thiền sư, một nhà tướng học khét tiếng thời đó mà nay một phần tác phẩm về tướng vẫn còn được lưu truyền, có lẽ là người đầu tiên phổ biến quan niệm cho rằng có thể căn cứ vào một số nét tướng khuôn mặt để suy đoán ra các nét tướng trên thân mình. Để phân biệt con người thưc tế với con người thu gọn trên khuôn mặt, thiền sư mệnh danh hình ảnh đó là Tiểu Hình Nhân.

    Trải qua nhiều sóng gió của thời cuộc, công trình độc đáo của Nhất Hạnh Thiền sư bị binh lửa Trung Nguyên làm thất truyền khiến cho các sách tướng cổ điển của Trung Hoa không còn tài liệu độc đáo này. Tuy vậy, một số người Nhật giao thương với Trung Hoa thời đó may mắn sưu tập được một vài di cảo của Nhất Hạnh đem về nước nghiên cứu và phát huy thêm. Thành thử, nguyên cảo Trung Hoa bị thất lạc chỉ còn lời đồn, may nhờ Nhật giữ hộ mà không bị mai một vĩnh viễn. Từ công trình khảo sát sơ khởi của Nhất Hạnh đem ra nghiên cứu tướng đàn bà bổ túc thêm cho hợp với nữ giới. Người Trung Hoa đầu tiên du nhập lại kiến thức này là Tô Lãng Trai, tác giả quyển Ngũ quan tướng tĩnh nghiên cứu. Những điều trình bày trong mục này phần lớn căn cứ vào các tác phẩm của Ngũ Vị Trai và Tô Lăng Thiên cả.

    Muốn có tiểu hình nhân ta lấy khuôn mặt làm mẫu mực, miệng là đầu, hai mi cốt (xương lông mày) là hai chân, hai pháp lệnh là hai tay, nhân trung là cổ, mũi là toàn thể thân mình.

    1 - Hai cánh mũi

    Phàm hai cánh mũi phụ nữ cân xứng thì nhũ hoa cũng cân xứng. Hai cánh mũi nẩy nở tròn trịa thì ngực nở, nhũ hoa lớn. Ngược lại, Chuẩn đầu thấp, gián đài, đình uý nhỏ hẹp thì nhũ hoa cũng nhỏ hẹp. Đàn bà mũi xẹp cánh mũi mỏng và nhỏ mà có bộ ngực núi lửa thì đó chẳng qua chỉ là phần nhân tạo chứ không phải là phần thiên bẩm.
    Hơn nữa, màu sắc của hai cánh mũi còn cho ta biết được nữ giới hiện đang ở thời kỳ kinh nguyệt hay không. Đang lúc hành kinh cánh mũi bao giờ cũng có sắc ửng hồng mà ngày thường không có.
    Những điểm trình bày trên đây đúc kết từ những nhận xét của các nhà y học nhằm mục đích giúp bạn trai những kiến thức giải hữu ích cần thiết tránh được những hành vi tổn thương đến đời sống gia đình chỉ vì ngộ nhận thiện chí của nhau.
    Nói chung sơn căn cho ta biết phần co lưng, sống mũi cho ta biết nửa phần thân trên.

    2 - Nhân trung

    Nhân trung và môi miệng giúp ta biết được một cách khái quát về cơ cấu sinh dục cũng như khả năng sinh dục của phụ nữ.
    Nói một cách tổng quát muốn biết việc sinh sản dễ dàng hay khó khăn, ta cần nhớ là : Nhân trung ngay ngắn, rõ ràng cộng thêm với lộc thượng, thực thương, Tả Hữu Tiên Khố tề chỉnh, đầy đặn và cân xứng là những dấu hiệu chắc chắn của việc sinh sản bình thường, ít gặp hiểm nghèo vì thai sản.
    Hai bờ nhân trung đàn bà đều rõ tạo thành hình dạng trên hẹp dưới rộng là dấu hiệu nhiều con và sinh sản dễ. Nếu có thêm chỗ gần tiếp giáp với miệng trũng xuống như vùng trâu đằm thì con trai ít hơn con gái. Nếu hai lằn gồ cao của nhân trung gần giáp với môi trên lại nổi cao và rõ thì sinh trai nhiều hơn gái.
    Nhân trung đàn bà trung bình và không có có đặc điểm trũng xuống hay nổi cao vừa kể thì số con trai và gái gần như ngang nhau nhưng không quá nhiều.
    Dĩ nhiên, những nhận định nào không áp dụng cho các trường hợp giải phẫu thẩm mỹ.
    Nhân trung quá mờ hoặc bị vạch ngang là dấu hiệu khá chắc chắn của kẻ có khả năng sinh dục không đáng kể. Quá mờ lại có vạch ngang rõ rệt là tướng không con vì lý do thiên nhiên bất túc.

    3 - Nốt ruồi ở nhân trung

    Nốt ruồi đàn bà xuất hiện ở nhân trung cũng là nét tướng có ý nghĩa quan trọng cần được đặc biệt lưu ý :
    Bất kể hình dạng Nhân trung ra sao bỗng nhiên có nốt ruồi đen đọng lại vị trí 1, là tướng đoản mệnh, hay chết sớm vì thai sản hoặc bệnh liên quan đến tử cung.
    Nốt ruồi ở vị trí 2 là dấu hiệu tử cung không được ổn, dễ bị bệnh phụ nữ. Đồng thời về mặt mạng vận là điềm báo trước ít nhất cũng phải dang dở hay tái giá mới được an thân. Nốt ruồi ở vị trí 3 dù lệch sang phải hay trái, không liên hệ đến tử cung nhưng liên quan đến mật thiết đường tình dục. Đàn bà có nốt ruồi đen như vậy phần lớn là không chung thuỷ, ít khi thoả mãn tình dục với một người khác phái.
    Nốt ruồi ở vị trí số 4 dấu dâm đãng. Theo Ngũ vị trai, kẻ có nốt ruồi đó nếu thêm mặt có đào hoa sắc thì trước khi kết hôn đã chung chạ chăn gối, có chồng rồi vẫn còn bướm ngõ ong tường, chồng ra cửa trước rước người tình ở sau. Về đường tử tức, ít khi có con. Thỉnh thỏang hoặc có thì về già cũng cô độc kể như không có.

    4 - Môi , Miệng

    Tướng học hiện đại Á Đông dựa trên các nhận xét của khoa học thân thể. Khác với tiếng học gia thời xưa, các tướng học gia Nhật bản ngày nay cũng là chuyên viên về y khoa và tâm lý. Nhờ đó, họ đã phong phú và hiện đại hoá tướng học Á Đông rất nhiều
    Tướng học Nhạt Bản cho rằng người ta có thể căn cứ vào mặt bất cứ nam nữ mà thôi cũng tạm đủ dữ kiện để phát đoán về toàn thể con người một cách tổng quát. Đối với tượng phái hình thể này, khuôn mặt là hình thể rút gọn của con người, từ khuôn mặt suy ra con người là một điều đáng rầt phù hợp với thực tế, không có gì đáng gọi là thần bí hoang đường cả. Tiếc thay quan điểm khoa học này bị một số người coi tướng giữ kín làm bí quyết sinh nhai và cố tình bí hoá nó khiến cho đa số quần chúng ngộ nhận là họ có tà thuật và coi tướng học như một môn thần bí học.
    Môn phái Nhật Bản cho rằng Môi, Miệng và hạ thể có nhiều tương đồng với hình thể và màu sắc .

    5-Tai

    Vẫn theo tướng phái trên, rãnh tai và màu sắc của tai là dấu hiệu để xét định bộ phận sinh dục của phái nữ .
    Theo ngũ Vi Trai, tác giả cuốn Ngũ quan tướng tinh nghiên cứu vào những năm trước khi xảy ra cuộc chiến tranh giữa Nhật Bản và Trung Hoa, ông ta đã tự mình khảo nghiệm khoảng tám mươi trường hợp thực tiễn thấy rằng tuy không đúng hẳn 100 % nhưng đại đa số những điều phát biểu về lý thuyết đều phù hợp với thực tế .


    2) Những nét tường đặc trưng về phụ nữ của Viên Liễu Trang

    Cổ nhân Trung Hoa nặng đầu óc phong kiến, quá trọng nam quyền cho rằng chỉ đàn ông mới thanh khiết, mới đáng trọng và đáng giữ vai trò chỉ huy trong mọi lãnh vực sinh hoạt. Quan niệm chuyển thế “ trọng nam khinh nữ “ này buộc đàn bà phải lệ thuộc và phục tùng tuyệt đối ở đàn ông, ở nhà phải nghe lời cha, lấy chồng phải nghe lời chồng, hoạt động gì (đặt biệt là hoạt động ngoài đời lẫn chủ động trong đời sống tình dục). Nói khác đi, dưới nhãn quang luân lý cổ điển khắt khe này, phụ nữ hoàn toàn bị động, phải tỏ ra vô tài cán. Có như thế mới coi là có đức: vì tục ngữ Trung Hoa : Nũ tử vô tài tiên thi đức (Con gái không có tài cán tức là có đức vậy ). Người đàn bà được trời phú tính thông tuệ, tư tưởng độc lập hoặc nhan sắc tự cho là mình có khả năng, không chịu hoàn toàn công nhận quyền tuyệt đối của nam giới, muốn tham gia vào đời sống cộng đồng một cách tương đối bình đẳng ( tỷ như nghề nghiệp tình dục ), muốn sống theo lương tri và phát triển khả năng thiên phú theo ý riêng, dám bất đồng ý kiến với chồng đều coi là hình khắc tư dâm .


    (Trích Lược Tử Vi :Tuổi Mùi, năm nay số mệnh ra sao? 12 Con Giáp và những đặc tính)

    36 TƯỚNG HÌNH KHẮC

    -Tóc vàng khè, xoắn tít lại với nhau thành từng bụi một
    -Tròng đen có màu vàng xậm
    ( như nước trà pha đặc ) tròng trắng đục đỏ
    -Lưỡng quyền quá cao nhọn, lấn hết khuôn mặt và các bộ vị khác
    -Trán nổi từng cục u nhỏ như ốc bám
    -Trán cao, mặt hõm
    -Trán có vằn sâu hoặc thẹo
    -An đường có hằn sâu dài chạy thẳng từ sơn căn lên trán , xung phá
    -Tuổi trẻ mà tóc rụng quá nhiều
    -Xương da khô, phá
    -Mắt dài, miệng lớn quá mức
    -Mặt gầy guộc nổi gân
    -Mặt hình tam giác
    -Tai chỉ có vành trong mà không có vành ngoài
    -Mặt choắt, nhọn, eo bụng quá hẹp
    -Sắc mặt khô xạm trì trệ như đất bùn
    -Sơn căn thấp gẫy
    -Cằm nghiêng lệch
    -Cổ gầy, trơ xương nổi đốt
    -Tiếng oang oang như tiếng sấm
    -Tính nóng như lửa
    -Thần khí thô trọc
    -Trán rộng, cằm nhỏ và nhọn
    -Mắt có khí sắc lốm đốm màu trắng
    -Sống mũi nổi gân máu hoặc nổi đốt
    -Thịt lạnh như nước đá
    -Tay lớn, xương thô
    -Vai lưng nghiêng lệch
    -Mắt tròn và quá lớn
    -Lộ hầu, răng như bàn cuốc
    -Xương thô cứng, tóc rễ tre
    -Đêm ngủ hay la hoảng
    -Miệng như thổi lửa
    -Lỗ mũi có lông dài thò ra ngoài
    -Trán gồ, mang tai bạnh
    -Xương che lỗ tai quá cao và đầy
    -Mắt trắng bệch, không huyết sắc

    Thông tin liên hệ

    CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT - THƯƠNG MẠI VÀ TTNT KIM DUY PHÁT
    Địa chỉ: 20/31, TMT 02, P. TRUNG MỸ TÂY, Q12-TPHCM
    Điện thoại: 08.38839484
    Email: kimduyphat@gmail.com

    PHÒNG KINH DOANH VÀ TƯ VẤN NỘI THẤT, SÀN GỖ CÔNG NGHIỆP, SÀN GỖ TỰ NHIÊN, BÀN THỜ GIA TIÊN, TRANG TRÍ NỘI THẤT
    Yahoo: kimduyphat
    Điện thoại: 38839484
    Di động: 0918.171.148

    TƯ VẤN KHÁCH HÀNG PHONG THỦY

    (PTS: Minh Trí)
    Điện thoại:(Quí khách hàng cần liên hệ xin để lại thông tin, gửi vào mail.)
    Email:phongthuyhuyenkhong58

    @yahoo.com.vn

    Hỗ trợ trực tuyến

    • Duy Phat
    • Duy Phat
    logo slice dat Quang cao logo Slice Slice pt chay HUYEN KHONG QCAO SLICE qc slice kosmos Qc ban tho gia tien slide Qc phải go tu nhien scroll

    Lịch vạn niên - Hôm nay