Danh mục

Hồ sơ năng lực công ty

Công Ty TNHH SX-TM & TTNT Kim Duy Phát : Chuyên cung cấp và thi công Ván Sàn Công Nghiệp, Ván Sàn Tự Nhiên, Sàn Gỗ Công Nghiệp, Công Ty bắt đầu thành lập từ tháng 6 /2008, nhưng quá trình thành lập chúng tôi đã bắt đầu hoạt động từ năm 2006 dưới danh nghĩa là Thầu Phụ cho các công ty Xây Dựng và TTNT, Qua quá trình hoạt động, chúng tôi xin cảm ơn những cá nhân , công ty đồng hành cùng chúng tôi trong xuốt chặng đường cho đến năm 2011 này

Thống kê

  • Lượt truy cập 1,474,002
  • Khách ghé thăm
  • Hôm nay 998
    Trong tuần 5661
    Paner-QC Phongthuy (left) QC WEB NOI THAT Nam linh chi rung Thi công ván sàn

    PHẬT HỌC CĂN BẢN

    Năm Hạnh


    A.- Dẫn NHẬP

    CÁc Đức PHẬT, các vị Boà tÁt đều có đầy đủ năm hạnh lành : Từ bi, Hỷ xả, Tinh tấn, Thanh tịnh và Trí tuệ. Là PHẬT tử chúng ta phải học tập năm hạnh đó. Hơn nữa, đã là một Huynh trưởng, chúng ta trước hết phải trau dồi năm hạnh, Tập Sống theo năm hạnh để rồi khuyến hóa nhắc nhở các em Của chúng ta thực hành năm hạnh .

    B.- Nội DUNG.

    I.- Năm Hạnh :

    1.- Ý nghĩa Của năm hạnh :

    a.- Từ bi : Đúng ra là gồm 2 : Từ và Bi. Từ là đem vui, Bi là Cứu khổ. Bằng mọi cách đem lại nguồn vui cho kêu khác gọi là "Từ", bằng mọi cách làm vôi đi nỗi khổ cho người khác gọi là "Bi". Không những cho người mà còn cho cả loài vật. Nhưng thường đem lại nguồn vui thì cũng vôi đi nỗi khổ. Một người đang khổ vì đói khát, không cơm ăn, mình đem thức ăn đến cho họ, trong cơn đói mà có được thức ăn thì chắc chắn cảm thấy vui sướng. Vậy, giúp cho người đang đói một Bát cơm là một lúc hành động cả Từ lẫn Bi.

    Một người đang đau khổ vì mất mẹ, chúng ta dùng lời lẽ ơn toàn an ủi, giải thích cho người ấy hiểu "Chết" chỉ là một giai đoạn chuyển tiếp từ trạng thái nầy sang trạng thái khác hoặc từ thân này sang thân khác, giống như đám mây kia gặp lạnh thì chuyển thành mưa, phàm có sinh ắt có tử, có thành ắt có hoại, ta còn có

    cách để báo hiếu chứ không phải là tuyệt vọng. Nhờ hiểu được như vậy, người kia đã vôi bớt nỗi khổ đau tức là giảm được nỗi buồn, đã có được niềm vui len lỏi vào trong nỗi buồn.

    Một em bé đang bị kêu du đảng uy hiếp, em hốt hoảng sợ hãi, ta đến can thiệp bênh vực cho em bé, em bé thoát khỏi sự hành hung Của tên du đảng. Em không còn đau khổ vì sợ hải và em vui mừng trong cơn nguy hiểm được có người Cứu thoát. Trong khi Cứu khổ lại vưà đem đến an vui. Chính vì vậy mà Từ thường

    ghép với Bi. Người có hạnh Từ Bi, cõi lòng luôn rộng mở, mỗi hành động, mỗi lời nói, mỗi ý nghĩa đều đem tới vui tươi cho kêu khác, làm vôi nỗi khổ cho kêu khác.

    b.- Hỷ xả : Hỷ xã cũng là hai hạnh: Hỷ là vui mừng, người có hạnh hỷ tính tình vui vêu. Xả là buông bỏ không chấp, không tham đắm. Ví dụ : có người chưởi mắng ta nhưng ta không chấp, không lấy đó làm nhục, không vì lời chưởi mắng ấy mà nổi sùng, ta vẫn điềm nhiên.

    Ta có một chiếc Honđa mới, ta giữ gìn cẩn thận luôn luôn lau chùi sạch sẽ, nhưng ta sẵn sàng cho bạn mượn khi bạn cần chứ không bo bo ôm giữ : dù bạn có làm trầy chợt hay hư hỏng đôi chút ta cũng không lấy gì làm tiếc nuối. Nói rộng ra, mọi Của cải tài sản, ta đừng quá lệ thuộc vào nó, đừng quanniệm là "Của ta" (khi xuôi tay nhắm mắt có đem theo được không ? Khi đó còn Của ta nữa không?).Mỗi khi hư hỏng, mất mÁt chúng ta đừng tiếc nuối đau khổ (phải hiểu lẽ vô thường). Nếu cừ chấp chặt : phải là "Của ta" thì ta đâu dÁm cho ai vật gì

    dù là nhỏ nhoi. Cả thân mạng chúng ta cũng coi thường, có phải sỡ hữu Của ta đâu? Chỉ cần một tai nạn là thân mạng này không còn nữa. Một luồng gió độc cũng có thể cướp mất thân mạng ta. Thân ta chỉ toàn tại trong từng hôi thở, thở ra mà không thở vào thì . .Người có hạnh "Xả" thì tâm bao giờ cũng bình thản tươi vui, tính tính trở nên vui vêu, nên "Hỷ" thường ghép với "Xả".

    c.- Tinh tấn : Tinh tấnlà tinh cần và vững tiến. Luôn luôn siêng năng và có chí vượt khó. Trên đường học đạo dù gặp bao nhiêu khó khăn, bao nhiêu cực nhọc cũng bền chí tiến bước. Người có hạnh "Tinh tấn" bao giờ cũng mong cầu học hỏi giáo lý, mong cầu tu tập giải thoát, không bao giờ lui bước khi gặp khó khăn, khi đối đầu với nghịch cảnh.

    d.- Trí Tuệ : Hiểu biết sáng suốt. Tức là hiểu biết đúng đắn, nhận rõ được sự thật (chúng ta đừng lầm hiểu biết ở đây là hiểu biết thế gian - thế trí - Vì có thể những hiểu biết về khoa học, những phát minh lớn lao mà không phải là hiểu biết sáng suốt. Ví dụ : Như phát minh bom nguyên tử để tiêu diệt loài người thì đâu có

    "sáng suốt" Người có hạnh "Trí tuệ" bao giờ cũng muốn tìm hiểu đúng sự thật, trước bất cứ` vấn đề gì cũng muốn hiểu cho thấu đÁo và thích nghiên Cứu học tâp giáo lý, thích bàn luận về giáo lý chứ không thích phung phí thời giờ trong các câu chuyện phù phiếm.

    e.- Thanh tịnh : Thanh tịnh là trong lặng. Thanh tịnh thường chỉ về tâm Hoàn. Một tâm Hoàn trong sạch tức là không có một ý nghĩ hay hành động xấu xa, độc Ác. Thanh tịnh còn có nghĩa sâu hơn, tâm thanh tịnh tức là tâm trong lắng, không vấy lên một tạp niệm nào. Người có hạnh "Thanh tịnh", không những là người không

    bao giờ có những ý nghĩ xấu Ác, những mưu đồ đen tối mà còn là người luôn luôn tìm cách giữ tâm mình trong lắng, không vọng động.

    2.-Cần hiểu đúng về năm hạnh :

    Như trong bài "Mục đích PHẬT Pháp" có đề cẬp đến phải cẩn thận khi tìm hiểu một từ ngữ trong PHẬT giáo. Không thể hiểu từngữ PHẬT giáo qua từ ngữ thong thường Của ngoài đời. Lắm lúc ngoài đời thường vay mượn danh từ PHẬT giáo nhưng dùng không thật đúng nghĩa Của nó. Chẳng hạn từ "giác ngộ" từ "tự giác" đã trở thành từ đầu môi Của nhiều người, nhưng những người dùng nó lại không phải là PHẬT tử nên đâu có đúng nguyên nghĩa Của no,ù "hoan hỷ"ù bây giờ cũng đã trở thành từ quen thuộc ở ngoài đời vàngười ta cũng đã dùng nó để diễn đạt một cách lịch sự ( "kính xin ơng hoan hỷ chấp thuận . . ."). Thật là quá lạm dụng từ ngữ phải không ? Vì vậy chúng ta thấy : Từ bi không thể đồng nghĩa với "nhân từ" hay "Bác Ái". Từ bi có nghĩa sâu hơn và rộng ra đến vạn loại chúng sanh chứ không phải chịu hạn định đối với "người". Nhiều Tự điển (chẳng hạn như Tự ĐIểN VIệT NAM Của Ban Tu Thư Khai Trí) chỉ giải nghĩa "Thanh tịnh" :

    1.- Trong sạch ;

    2.- Yên tỉnh. Mà đúng vậy, ngoài đời chỉ hiểu rằng : Khoảng không gian vắng lặng, không có tiếng oàn ào là thanh tịnh. Còn từ "Hỷ Xả"(Cũng tự điển nói trên) giải thích : Xả thân một cách vui vêu. Thế cũng đúng, nhưng chỉ một khía cạnh "Xả thân". Đúng nghĩa Của nó là buông bỏ tất cả. Trí tuệ ở đây phải hiểu là PHẬT trí chứ không phải là thế gian trí (như đã giải thích). Vậy có người có thể có bằng cấp văn hóa cao : Cử nhân, Tiến sĩ mà không hiểu gì về giáo pháp, không xây dựng sự hiểu biết Của mình trên nền tảng "tình thương" thì cũng là người "không có trí" (đối với đạo PHẬT). Trái lại người không có bằng cấp văn hóa, nhưng lại là người từng nghiên Cứu sâu sắc về đạo PHẬT đem giáo lý thực hànhtrong đời sốngthì lại là người "có trí" (dĩ nhiên thế gian trí cũng có thể là phương tiện giúp cho chúng ta để mở mang PHẬT trí).Tinh tấn không chỉ có nghĩa tiến tới một cách sáng suốt mà còn phải bao hàm cả nhẫn nại hy sinh. Khi tìm hiểu một từ ngữ PHẬT giáo ta phải biết tầm nguyên.

    3.- Tương quan Của Năm Hạnh :

    Thật ra năm hạnh đều có tương quan với nhau. Người có hạnh Từ Bi làm gì cũng cân nhắc xem việc mình sắp làm có tác hại gì đến ai không ? Nếu biết dựa vào giáo pháp để cân nhắc thì chính sự cân nhắc này đã thể hiện đước tính trí tuệ.(phân tích thật kỹ càng, tìm hiểu cho chu đÁo). Và ngước lại, người có trí tuệ (PHẬT Trí) thì hành động phải phù hợp với giáo pháp bao giờ cũng lợi mình, lợi người vậy hành động ấy mang tinh thần Từ bi.

    Cũng vậy, người có hạnh Hỷ xả mới dễ dàng thực hiện sự Bố thí, tức là có lòng Từ bi(người nào cứ khư khư chấp chặt vào tiền Của, bo bo ôm giữ mãi, có một muốn sinh sản thành hai, ba,bốn muốn nẩy nở thành năm sáu thì làm sao Bố thí được?). Khi chúng ta đã giúp cho aimột ít tiền bạc hay vật dụng là chúng ta đã buông bỏ nó một cách vui vêu rồi. Vậy, có "Hỷ xả" dễ dàng tăng trưởng hạnh "Từ bi", và có Từ bi dễ dàng xây dựng hạnh "Hỷ xả". Nhữngngười có tâm Hoàn trong lắng không vọng động thì trí tuệ dễ phát chiếu. Vậy hạnh Thanh tịnh hổ trợ cho hạnh Trí tuệ và ngược lại người có Trí tuệ mới thấy được "Thanh tịnh" là cần thiết trong cuộc sống. Khi đã thấy được như vậy thì không có gì có thể làm cản trở bước đường tu học. Vì có trí tuệ ta đã nhìn rõ "Chỉ có giáo pháp là ngọn đèn soi sáng trên con đường giải thoát" mà chúng sanh thì đang lặn hụp trong bể khổ trầm luân, cho nên chúng ta thiết tha mong cầu giải thoát . . . Thế thì có sự nguy nan nào có thể làm chùng bước ta được trên con đường học đạo và hành đạo thì làm sao mà không phát triển được Từ bi, Trí tuệ.Vậy thì ngược lại Tinh tấn cũng tương quan với các hạnh khác.

    II.-TRAU DồI NĂM HạNH :

    Đã là "Hạnh" tức là phải thuộc trong con người chúng ta, trong tâm chúng ta, trongthân chúng ta chứ không còn là một từ ngữ trống rỗng bên ngoài và cũng không còn chỉ là một thái độ. Chẳng hạn nói hạnh "Từ bi" không phải chỉ là một thái độ "Từ bi" nữa. Đó là "Hạnh". Vậy nó có sẵn trong tâm, trong thân nên mỗi lời nói, một hành động, một Ánh mắt, một nụ cười đều có chất LIỆU Từ bi. Người Huynh trưởng chúng ta không còn nói là "thực hành" năm hạnh nữa. Đối với các em, 5 hạnh này có ở các đức PHẬT, các vị Boà tÁt, các em phải học và

    tập tức là hiểu và thực hành trong đời sống các em.Là Huynh trưởng chúng ta phải đưa năm hạnh này vào trong tâm, trong thân Của chúng ta. Là 5 hạnh Của người PHẬT tử (dĩ nhiên không sao sung mãn như các đức PHẬT, chư vị Boà tÁt, nhưng ít ra cũng thoang thoảng đôi chút chứ). Đành rằng : Hạnh thì còn có căn duyên nhưng

    nếu không biết trau dồi thì cũng khó mà toàn tại.

    1.- Trau dồi hạnh từ bi :

    Tùy căn cơ Của mỗi người. Có người khi thấy một bạn đau buồn khổ sở, không có một lời để vôi bớt nỗi khổ Của bạn mà ngược lại, nói ra lời nào thì chỉ gợi thêm sự đau khổ Của bạn thôi, nhưng người đó lại có thể bỏ tiền để hổ trợ cho công cuộc in ấn kinh sách, thế cũng là có tâm từ, cũng là Pháp thí ; một quyển sách, giáo lý cũng là một vị thầy đấy. Lại có người không thể nhịn được sự vu khống nhục mạ Của kêu khác mà phải nổi cơn thịnh nộ mắng cải, đánh đập nhưng họ lại có thể bỏ tiền gạo giúp cho những người nghèo đói. Vậy tùy căn cơ mà làm

    phát triển tâm Từ Của mình. Ta phải biết quán - Người vu khống, chưỡi mắng ta, ta không nhịn được, nhưng ta thử đặt mình vào địa vị Của người ấy, vì phải sợ hãi một sự kiện gì đo nên vu không cho ta, chưỡi mắng ta, ta im lặng để họ có thể đổ vào ta mà không còn sợ hải thì đó là tâm Của người Từ bi. Hoặc ta giả sử người đó là cha mẹ ta, ta có chưỡi rủa đánh đập lại không ? Vậy xem người đó là cha, làmẹ ta đi.

    Ăn một Bát cơm ta nghĩ đến những moà hôi nước mắt Của người nơng phu đổ xuống cho có hạt gạo để nuôi sống ta. . . Trong từng hôi thở ta nhắc nhủ mình : "Nhớ tìm cách cho vui - Nhớ làm vôi nổi khổ" (Từ bi).

    2.- Trau dồi hạnh Hỷ xả :

    Ta phải quán vô thường có sự việc gì, có hiện tượng gì trong vũ trụ này mà thường còn mãi mãi đâu ? Một luồng gió độc, một tai nạn đột xuất, ta có níu kéo được mạng sống không ? Tài sản, thân mạng có giữ mãi được không ? Thế thì tiếc gì mà không buông bỏ, tiếc gì mà không vui tươi trước mọi biến cố.

    3.- Trau dồi hạnh Tinh tấn :

    Biết takhông chủ động được mạng sống Của mình thì ta phải biết dùng than xác này làm phương tiện tu học, giải thoát. Làm được kiếp người là quý hóa lắm, giả như mang thân kiếp súc sanh, ngạ quỷ thì làm sao biết được Chánh pháp để tu tập giải thoát (kể cả thân kiếp chư Thiên, biết đâu chỉ lo vui hưởng dục lạc mà chẳng thấy được con đường giải thoát). Mà kiếp người này thì phải tranh thủ từng phút, từng giây, từng sát na, vì ai biết được cái giờ phút "không còn hôi thở". Vậy mỗi phút tim còn đập, phổi còn thở là mỗi phút tinh tấn học đạo, hành đạo.

    4.- Trau dồi Trí tuệ :

    Ta phải luôn luôn nghiên Cứu, học hỏi giáo lý, kinh điển ; tìm một minh sư hướng dẫn tu tập. Tìm bạn "Trí" để trau dồi mạn đàm, thảo luận. Đừngphí thì giờ trong các chuyện phiếm vô bổ hoặc bỏ phí thì giờ trong các buổi xem phim, Vidéo, nhữn g phim thiếu tính cách giáo dục. Việc tĩnh tâm rất cần thiết cho sự phát huy trí tuệ.

    5.- Trau dồi hạnh Thanh tịnh :

    Biết tĩnh tâm, biết cách gạn lọc những ý nghĩa không trong sạch, biết đình chỉ những vọng niệm. Phương pháp đơn giản nhất là theo dõi hôi thở. Hàng ngày dành một số thời gian (15 phút - it nhất) tập thiền định - hoặc trong khi đi đứng. . .cũng có thể theo dõi hôi thở :

    - Hôi thở 1 : Thở ra "Nhớ tìm cách cho vui", Thở vào "Nhớ tìm cách cho vui"

    - Hôi thở 2 : Thở ra "Nhớ làm vôi nỗi khổ", Thở vào "Nhớ làm vôi nỗi khổ".

    - Hôi thở 3 : Thở ra "Nhớ giữ lòng hoan hỷ", Thở vào "Nhớ giữ lòng hoan hỷ"

    - Hôi thở 4 : Thở ra "Nhớ tập hạnh xả buông", Thở vào "Nhớ tập hạnh xả buông"

    Cứ tập mãi như thế.

    Kết LUậN :

    Đã là hạnh Của người PHẬT tử thì Huynh trưởng chúng ta phải luôn luôn trau dồi. Khi đã "Hạnh" thì mỗi lời nói, mỗi hành động, mỗi cử chỉ đều đượm tính chất năm hạnh một cách tự nhiên. Chưa đòi hỏi một mức độ cao, nhưng phải tùy căn cơ mà rèn luyện để được phát triển dần đến chân thiện mỹ(ST)

     

    Cuộc Đời Đức Phật

    Không phải đến bây giờ chúng ta mới tìm hiểu lịch sử đấng Thế Tôn. Là Huynh trưởng , chúng ta phải hiểu rõ lịch sử Của Ngài từ lâu rồi. Hôm nay , chúng ta đi sâu vào cuộc đời Của Ngài để tìm hiểu những ý nghĩa cao cả qua từng giai đoạn trong cuộc đời vô cùng sáng ngời ấy.

    Để có thể xác định thêm một ý nghĩa về lịch sử tư tưởng nhân loại trong cuộc đời Của đấng Thế Tôn , tưởng cũng nên tìm hiểu qua Hoàn cảnh xã hội ấn Độ lúc bấy giờ.

    I/ XÃ HỘI ẤN ĐỘ TRONG THỜI K Ỳ ĐỨC PHẬT RA ĐỜI :

    Nói đến sự đau khổ bất công trong xã hội ở thế kỷ thứ V trước Tây lịch thì hầu như nước nào cũng có, nặng nề nhất thời ấy , có thể nói là xã hội ấn Độ. Một xã hội phong kiến Áp bức , chia rẽ giai cấp. Quốc dân chia làm 4 giai cấp chuyên chế:

    1.-Bà la mơn :Gồm các đạo sĩ tu hành đạo Bà la mơn , được chuyên giữ lễ nghi , văn hóa , học thuật Của dân tộc ấn (theo quan niệm Của họ
    hạm Thiên là đấng tạo ra vạn vật , muôn loài và đích cao nhất Của người tu học đạo Bà la mơn là Hoà hợp với Phạm Thiên ).

    2.-Sát đế ly : Giòng họ nhà Vua , nắm quyền chính trị và thâu trong tay hầu hết đất đai Của toàn quốc.

    3.-Phệ XÁ : Gồm những hạng người buôn bán , nhưng dòng giỏi cao sang.

    4.-Thủ Đà La : Gồm những người làm thuê , làm mướn suốt đời , bị khinh bỉ ,không được học hành , không được nghe giảng đạo v.v…

    Bốn giai cấp này có sự chênh lệch lớn và cấm tuyệt hơn nhân giữa hai giai cấp với nhau. Ngoài 4 giai cấp còn cómột hạng người Đông đảo không được liệt vào một giai cấp nào , họ bị khinh rêu hơn con vật , cuộc sống Của họ ti tiện khổ sở hơn một con vật đói khát. Hạng người này phải mang Lục lạc ở chân để các người ở giai cấp trên biết mà tránh xa họ. Có lúc họ phải trốn vào bụi cây để các người khác không thấy. Họ chỉ sống bằng cách lượm thức ăn dư thưà và cuối cùng họ lê thân đến bãi tha ma nằm chờ chết.

    Giữa một xã hội vô cùng khổ đau , bất công , bất bình đẳng như thế , một trung tâm Của sự hỗn loạn vô cùng trong tư tưởng như thế , thì một đóa hoa ƯU ĐÀM đã nở ( không phải đức PHẬT ra đời chỉ để cứu độ cho một nước ấn Độ ,nhưng vào thời kỳ đó , ấn Độ là một nước trung tâm Của khổ đau , Của phân chia giai cấp ).

    II/. CUỘC ĐỜI Của THÁI TỬ TẤT ĐẠT ĐA
    cần ơn lại lịch sử Của ngài trước khi học bài này )

    1. Thời niên thiếu : Thái tử Tất Đạt Đa ra đời vào ngày Rằm tháng 4 âm lịch ( tính theo lịch tàu ) tại vườn Lâm Tỳ Ni trong lúc Hoàng hậu Ma Gia đang dạo chôi ngắm cảnh . Bản tánh Của ngài rất thông minh . Lúc lên 7 tuổi , Vua cha chọn cho thái tử những giáo sư danh tiếng vào cung để dạy thái tử . Năm 12 tuổi , thái tử chiếm giải nhất trong nước về văn chương , nghệ thuật , triết học , chính trị và cả võ nghệ : Chẳng bao lâu thái tử vượt hơn cả sức hiểu biết Của các giáo sư . Mọingười đều thán phục . ( Qua phần này , chúng ta thấy rõ trí tuệ phi thường Của ngài).

    Thái tử ưa thích yên tĩnh , từ tiếng kêu thống thiết Của loài cơn trùng trong đêm vắng cũng làm cho thái tử động lòng thương ; một chiếc lá vàng rôi cũng làm cho thái tử ưu tư suy nghĩ (Tình thương chúng sanh đã trổi dậy trong lòng thái tử ) . Vì vậy nhà vua tìm mọi lạc thú , sung sướng trên đời để cầm chân thái tử và cũng không cho thái tử xuất gia như lời tiên đoán Của A Tư Đà . Năm 17 tuổi , thái tử vô địch trong cuộc thi tài cùng các vương tôn công tử trong nước và các chư hầu tại Hoàng thành (phần này chúng ta thấy sức mạnh phi thường Của một chàng trai anh dũng), và theo lệnh vua cha kết duyên với Gia Du Đà La . Một nàng công chúa kiều diễm Của lân bang . Nhà vua cho sửa sang cung điện cực kỳ myõ lệ, tuyển hàng trăm cung nữ xinh đẹp ngày ngày múa hát.

    Nhưng mọi sung sướng, mọi cảnh đẹp Của thế gian không thể nào lay chuyển được lòng thương chúng sanh ở con người cao cả ấy. Ngai vàng , điện ngọc, hạnh phúc, khoái lạc trần gian Thái Tử cũng không đam mê, trái với suy nghĩ Của những thanh niên anh tuấn thời bấy giờ. Sau cuộc du ngoạn ngoại thành, thái tử cảm thấy đau khổ trong tâm Hoàn , thông cảm nổi đau khổ Của nhân loại ; hình ảnh kêu quằn quại trong cơn bệnh , ông già tiều tụy thất thiểu , hình ảnh người chết rụi bên vệ đường đã làm cho thái tử ngày đêm suy nghĩ . Ngoài những thảm cảnh ấy , con người còn bị khinh bỉ bởi thành kiến giai cấp Của xã hội đương thời , họ không còn gì là chút tự do , hạnh phúc . (Lòng thương Của thái tử mở rộng phạm vi lớn hơn ) . Thái tử đã thốt lên : “ Không có giai cấp trong giọt nước mắt cùng mặn , trong giòng máu cùng đỏ “ . Những cái gì người đời cho là hạnh phúc nhất thế gian ( Ngôi vua , điện ngọc , vợ đẹp , con ngoan …) thì thái tử cho là ảo ảnh và chỉ làm cho con người đau khổ . ( Trí tuệ phát chiếu đến mức độ cao hơn ).

    Chính thái tử đã nói : “…Ta đã thấy , đã nghe hôi thở thoi thóp Của trần gian đang hấp hối . Ta đã nhận rõ bóng ảo huyền Của lạc thú , sự mỉa mai Của hạnh phúc , cái Áo não Của những nỗi lao khổ nhọc nhằn. Thú vui chỉ mở đường cho đau khổ trong hội ngộ đã nẩy mầm chia ly , trêu trung đưa đến già yếu , sống để rồi chết , rồi …đến những cuộc sống vô định khác , và cứ như thế , từng hạt đau thương chạy vòng trên chuỗi hạt thương đau ….( Ánh Đạo Vàng Của Võ Đình Cường ).Vì những lẽ ấy , vì lòng thương Cứu độ chúng sanh đến nỗi tâm trí Thái tử thoát ra ngoài thân thể . Thái tử muốn tìm một hạnh phúc chân thật , tuyệt vời , một chân trời bao la rộng rãi , một cuộc sống nhịp nhàng với nước non không biên giới , đập tan những gơng cùm xiềng xích trói buộc muôn loài trong thành trì thống khổ . Tư tưởng xuất gia càng trổi dậy trong tâm Hoàn thái tử ( Từ bi rộng mở).

    2) Thái Tử xuất gia : Rồi …một đêm , Moàng 8 tháng 2 âm lịch khi trăng xuân vưà xế , cảnh vật triền miên trong giấc ngủ im lìm , không một âm ba đồng vọng .Đông cung thái tử Tất Đạt Đa bỏ lại ngôi báu , bỏ lại những ngày vàng và đêm ngọc , gỡ cánh tay luyến Ái Của hiền thê , cắt ngang tình yêu mãnh liệt Của phụ Hoàng và xa lánh đứa con thô đang nằm bên lòng mẹ …Con người chí khí ấy đã vượt thành xuất gia tìm đạo với một lý tưởng siêu phàm ( Dũng lực Của tinh thần ).

    Ta đã thấy rõ chơn tướng Của sự sống rồi , ta sẽ đi tìm cho nhân loại một con đường giải thoát “ ( Ánh Đạo Vàng Của Võ Đình Cường ).

    Đem ngôi vị đế vương đổi lấy cuộc đời vất vã Của kêu hành khất , tháng năm ròng rã , phong sương phủ đầy trên thân người Vương giả . Thái tử tìm học đạo ở nhiều mơn đạo lúc bấy giờ .Nhưng kết quả không có đạo nào cho người thấy rõ lẽ sinh toàn Của vạn vật , không một đạo nào đưa con người thoát khỏi khổ đau . Nhưng qua đó ngài cũng thu lượm được nhiều kinh nghiệm. Rồi Ngài cũng thực hành cách hành đạo Của các phái cực đoan. Ngài tu khổ hạnh 6 năm trời , mỗi ngày chỉ ăn một hạt gạo , một hạt mè. Đến nỗi một ngày kia Ngài kiệt sức , ngất xỉu. Khi tỉnh dậy , Ngài tự nghĩ. Ta nhịn đói hành phạt thân thể bấy lâu nay cũng chẳng có ích gì. Người cầu đạo cần mở mang trí tuệ. Mà muốn có tâm Hoàn trong sáng thanh tao cần phải có một thân thể rắn chắc khỏe mạnh để nương tựa , nhưng nếu thân thể đẩy đà sung mãn thì tâm Hoàn dễ đắm say sa đoạ , mà thân thể yếu đuối tiều tụy thì tâm Hoàn cũng bạc nhược , rối loạn. Quá sướng hay quá khổ không phải là tu hành chân chính.(Trí tuệ sáng tỏa hơn ) Lúc ấy nàng Mục nữ Tu Xà Đề cúng dường Ngài Bát sữa. Thọ Bát sữa xong, Ngài bình phục , Ngài quyết định bỏ lối tu lầm lạc ấy. Đến núi Tượng đầu , bên sông Ny Liên Thuyền , ngài xuống sông tắm rửa rồi đến gốc cây Boà Đề, trãi cỏ làm nệm. Ngài tỉnh toạ yên lặng suy nghĩ ,. Ngài phát đại nguyện : “ Dầu máu ta có khô , xương ta có Mục , tacũng không rời khỏi chỗ này , nếu ta chưa tìm ra đạo pháp nhiệm mầu , đưa muôn loài ra khỏi khổ đau , ra khỏi mê lầm tăm tối “. Suốt 49 ngày Ngài NHẬP định , tĩnh tâm , chuyên chú tham thiền. Ma vương sợ Ngài thành đạo sẽ giác ngộ cho mọi loài , liền rủ nhau đến quấy phá , quyến rủ , mê hoặc Ngài. Nhưng Ngài định lực cao cường , chiến thắng tất cả sự cám dỗ Của Ma vương ( Dũng lực Của Ngài đã đi đến đại hùng , đại lực ).

    3) Thái tử Thành đạo : Rồi đêm ấy. Đêm moàng 8 tháng Chạp , không một tiếng động nhỏ Của cảnh rừng u tịch , thời gian như ngừng trôi , vũ trụ và vạn vật đều im lìm, giờ phút thiêng liêng ấy , từ đỉnh trán người xuất thế , một luồng hào quang sáng lánh như cả muôn chùm sao chùm lại chiếu rọi cả 4 phương , như bó đuốc sáng quét sạch cả bóng tối Của đêm đen.

    Đầu canh 2 đức Thế Tôn đã chứng quả "Túc mạng minh"biết được những kiếp trước Của mình. Sang canh 3 Ngài chứng được "Thiên nhãn minh" thấu triệt những cuộc sống chết luân hồi Của vạn loại chúng sanh. Đến canh 4 Ngài chứng quả "Lậu tận minh" thấu triệt được nguồn gốc Của sự khổ đau hiện tại, dùng trí tuệ trừ sạch phiền não. Hào quang đại trí đã tận diệt mê lầm khám phá chân tướng Của vạn hữu vũ trụ , tìm ra được nguyên do Của sự khổ và phương pháp tận trừ khổ não.

    Ngày moàng 8 tháng Chạp , ngày hân hoan bất diệt , ngày Của vũ trụ huy Hoàng , ngày đạt tới chân lý tuyệt đối Của Đông cung Thái tử TấT ĐạT ĐA , tôn hiệu là THÍCH CA MÂU NI PHẬT ( Skya Muni Buddha ). Từ đấy , Ngài là người chung Của muôn loại chúng sanh , Của CHÂN THIỆN MỸ (Trí tuệ đã phát chiếu đến cùng tột trở thành TRÍ TUỆ BÁT NHÃ ).

    III/ THỜI KỲ ĐỨC PHẬT TRUYỀN ĐẠO :

    1.- Đức PHẬT truyền đạo : Sau khi thành đạo Ngài chưa truyền đạo ngay vì sợ đạo Ngài cao siêu khó hiểu. Nhưng sau đó , xét rõ căn cơ và suy nghĩ ra phương tiện ứng dụng , Ngài trở lại với mọi người. Đầu tiên Ngài thuyết pháp cho những ngườiđồng tu khổ hạnh trước đây , kết quả 5 anh em Ơng Kiều Trần Như được khai ngộ. Và rồi trong suốt 49 năm thuyết pháp giáo hóa trên khắp lưu vực bình nguyên châu thổ ấn , đến miền núi rừng và rồi trên vạn ngã, từ thành thị đến thơn quê , mọi người đều được Hoàng ân pháp nhũ. Tăng đoàn Của Ngài mở rộng cửa đón mọi người thuộc mọi tầng lớp , nghề nghiệp.

    - Trong số người tham gia Tăng chúng và chuyển Thánh quả, có cả Vua chúa , Bà la mơn , thợ cạo , người đổ phân, thậm chí có cả người dâm nữvà có cả tên tướng cướp giết người không gớm tay là Augulimàla.

    2.- Đức PHẬT NHẬP Niết bàn :

    Suốt cuộc đời hoạt động , đức Thích Ca từng căn dặn các đệ tử : “CÁc con hãy tranh đấu quyết liệt. Tranh đấu với chính mình để đạt tới chân lý “ và "Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi".

    Cho đến lúc thân tứ đại đã xoay vần trên tám chục xuân thu và mãi đến khi hôi tàn sức kiệt , Ngài cũng cố gắng thuyết giáo lần cuối cùng cho các đệ tử trong một ngày một đêm cho Hoàn tất bộ “Đại Niết Bàn “ tại xứ Câu Thi La trong rừng Sa La. Khi Ngài gần NHẬP Niết bàn , Ngài còn căn dặn “ CÁc con hãy tranh đấu dũng cảm để tự giác, giác tha “.

    IV/ Sự THị HIệN Của ĐứC PHẬT :

    Từ thuở niên thiếu cho đến khi xuất gia , thành đạo và hành đạo , chúng ta thấy rằng Ngài luôn hướng về khổ đau Của chúng sanh. Tình thương rộng lớn Của Ngài bao trùm cả muôn loài. Nhưng không phải chỉ có cuộc đời ngắn ngủi ấy đức PHẬT thường nghĩ đến chúng sanh. Nếu đã đọc những truyện tiền thân đức PHẬT thì ta được biết rằng. Từ vô số kiếp trước đức Thế Tôn đã có lòng từ bi , luôn tâm niệm đem vui Cứu khổ cho mọi loài. Công năng tu tập từ nhiều kiếp trước thêm vào công năng tu tập trong kiếp này đã đưa Thái tử Tất Đạt Đa đến quả vị PHẬT.Công hạnh Của Ngài trong các kiếp trước gần viên mãn và do hạnh nguyện Của Ngài sau này thị hiện xuống cõi Ta Bà để Hoàn tất việc tu chứng , để đi đến viên mãn , để Cứu độ cho chúng sanh đang quằn quại trong đau thương mà điển hình nhất là xã hội ấn Độ lúc bấy giờ. Hiểu được sự thị hiện này , mới thấy lòng Từ bi Của đấng Thế Tôn thật quá bao la. Chính vì lẽ đó , trong kinh Khánh Đãn có đoạn : “…Nay nhờ PHẬT Tổ năng nhân …Ta bà thị hiện , Thích chủng thọ sanh … “ Và cũng chính do sự thị hiện nên khi vưà ra đời , Thái tử Tất Đạt Đa đã thốt nên câu nói :” Thiên thượng thiên hạ , duy Ngã độc tôn” (Trên trời , dưới trời chỉ có ta là hơn cả ). Chúng ta phải hiểu chữ “ Ngã” (Ta) ở đây không phải là chỉ Thái Tử Tất Đạt Đa mà cũng không phải chỉ Đức PHẬTThích Ca sẽ thành PHẬT nay mai mà là cái “Ta” đại thể “Ngã “ ở đây là “chơn ngã “ Phải trở về chính mình. Cuộc đời Của ta là do ta tạo ra chứ không có Thượng đế nào định đoạt được (chỉ có ta là hơn cả ). Cái ta đại thể ở đây là thể tịch tịnh tri giác không xao động biến hoại (nên xem “Chìa khóa học PHẬT” Của Thích Thanh Từ để hiểu rỏ hơn ). Cuộc đời đức PHẬT mà ta đã tìm hiểu, phân tích cũng đủ để chứng minh câu Thánh ngơn vàng ngọc này. Nhưng ta phải hiểu rõ sự thị hiện ở đây khác với sự giáng thế Của một tôn giáo khác. Sự giáng thế Của các tôn giáo khác có nghĩa là đấng Thượng đế. Thần linh xuống trần gian này để dùng quyền uy tối thượng Của mình mà thưởng phạt nhân loại. Đức PHẬT thì không phải thế , Ngài không bao giờ đặt mình lên địa vị tuyệt đối ấy. Ngài từng nói với các đệ tử : “Ta đến đây là không phải để Cứu độ các con , mà để chỉ đường cho các con , các con phải noi theo đó mà tiến hóa giác ngộ

    để tự Cứu lấy mình".

    V.-TÍNH CHấT CÁCH MạNG TRONG CUộC ĐờI ĐứC PHẬT : (Ý nghĩa lịch sử cách mạng ) Giữa xã hội đau thương đầy dẪy bất công , phân chia, kỳ thị giai cấp Của ấn Độ lúc bấy giờ thì HOA ƯU ĐÀM nở, sau khi chứng quả đức PHẬT đã hoạt động không ngừng , luôn luôn đứng về phía đau khổ , về những người bị Áp bức bóc lột, đặt địa vị xứng đÁng Của con người lên trên tất cả để giải phóng cho họ . Ngài gần người , tin người và yêu người , cốt tìm sự lợi lạc chính thức cho tất cả . Kêu mê thì Ngài cảnh tỉnh , người trí thì người tiếp dẫn đến sáng suốt vô biên . Ngài chỉ dạy phương pháp diệt khổ để được an vui . Không phân biệt “ vua chúa hay người ty tiện “.

    Như vậy Ngài đã san bằng giai cấp mà đã từ lâu đời ăn sâu trong xã hội ấn Độ . Đức PHẬT bác bỏ cái gọi là quyền uy tối thượng Của “ Thánh điển Vệ Đà “ , Ngài đã nói “ chúng sanh là PHẬT sẽ thành “ . Ai cũng có PHẬT tánh , ai cũng có khả năng thành PHẬT . Ngài khôi phục và khẳng định trí tuệ Của con người . Việc bác bỏ quyền uy tối thượng Của thánh Vệ Đà còn kèm theo hai hệ quả :

    1. Bác bỏ quyền uy xã hội Của giai cấp Ba La mơn .

    2. Bác bỏ tin tưởng ở một đấng thượng đế sáng tạo và ngự trị muôn loài . Pháp sư Swâmi Vivekamandi , trong cuộc diễn thuyết gần đây (viết năm 1950 ) ở Luân đơn và Nữu ước , cũng đã trình bày cho các bạn Tây phương biết một quan niệm rất Á Đông về sự tiến bộ Của nhân loại. Một quan niệm khác hẳn với học thuyết Doroinisme, nghĩa là một sự tiến bộ không vâng theo con đường thẳng mà uốn cong theo vòng tròn. Chính công luật đó đã ứng hiện ở ấn độ vào thời bấy giờ. Một sự hỗn loạn vô cùng trong tư tưởng, một bất bình đẳng vô lý. . . và một phản động lực quyết liệt, phải xảy ra để đưa xã hội về một trẬt tự mới, mà người xướng lên là Đức PHẬT Thích Ca mâu Ni (Đạo PHẬT tập 2 Của Huyền Chân) .

    VI.- Ý NGHĨA CAO CẢ Về CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT :

    Nếu phân tích từng giai đoạn Của cuộc đời Ngài, chúng ta cũng thấy giai đoạn nào cũng kết tinh bằng tình thương, trí tuệ và dũng lực. Càng ngày tình thương càng rộng lớn dần đến vô biên, Dũng lực thì từ cái dũng thể chất Của một thanh niên ưu việt chuyển đến cái dũng tinh thần, nghị lực lớn lao cắt đứt Ái dục, bỏ cả vợ đẹp con ngoan,, bỏ cả ngôi báu, ngọc ngà nhung lụa, bỏ cả những gì mà người đời cho là hạnh phúc nhất trần gian. Và cuối cùng tiến đến mức độ Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi, chiến thắng Ma vương, ngoại cảnh và ma vương Của nội tâm, trí tuệ sáng chiếu tuyệt đối đạt đến trí tuệ Bát nha (lúc Thành đạo). Đoạn sau Của cuộc đời tìm đạo, chúng ta đã thấy công cụ mà đức PHẬT dùng để thể hội chân lý tuyệt đốilà "TRÍ TUệ BÁT NHÃ", đó là cái trí tuệ Cứu cánh, không phải chỉ học nhiều mới có được, mà còn phải hành phải tu mới có được. Ngoài ra, chúng ta còn nhận được những ý nghĩa qua các sự kiện đặc biệt trong cuôc đời Của đấng Thế Tôn.

    VII.- Ý NGHĨA CÁC SỰ KIỆN ĐặC BIệT :

    1.- Đản Sanh : Với nhiều hiện tượng lạ cho thấy đức PHẬT không phải là người bình thường mà đây là lần thọ thân sau rốt Của muôn ngàn kiếp sống trước đây (qua những chuyện tiền thân đức PHẬT). Lần thọ thân này không phảiø thọ than do nghiệp lực mà là một vị Boà tÁt hiện thân để hóa độ chúng sanh. Ngài ra đời để dạy cho chúng sanh : "Ai cũng có khả năng thành PHẬT".

    2.- Xuất gia : Khung cảnh và môi trường khi Ngài xuất gia đã cho chúng ta thấy rõ : Ngài như một đóa sen tỏa hương thôm ngÁt và thanh khiết làm tươi đẹp thôm mÁt cho cuộc đời.

    3.- Thành Đạo : Đến đích giải thoát, sự kiện Thành đạo có ý nghĩa rất sâu sắc :

    - Trung đạo : Tránh hai cực đoan : Hưởng dục và khổ hạnh.

    - Tự thân con người có thể đạt đến giác ngộ

    - Đoạn trừ được vô minh thì Ánh sáng "chân lý" lóe sáng.

    4.- Hóa độ chúng sanh : Không phải chỉ giải thoát cho bản thân mà giải thoat cho mọi người (nói rộng ra là mọi loài). Thể hiện hạnh Từ bi rộng lớn và đấy chính là hạnh nguyện Của Ngài, chính là động lực thôi thúc Ngài xuất gia.Công cuộc hoằng hóa Của Ngài đã nói rõ tinh thần "Giác Tha" sau khi "Tự Giác".

    5.- Niết bàn : Niết bàn là tịch diệt, là thế giới Của sự chứng NHẬP, giải thoát Hoàn toàn. ở đó không dấy lên một vọng niệm nào. Chỉ có chứng NHẬP mới hiểu đượctrạng thái tịch diệt vắng lặng Của Niết bàn. Đây mới là Cứu cánh. Đức PHẬT NHẬP Niết bàn tức là đức PHẬT không còn sanh, tử nữa (NHẬP Niết bàn, như vậy, không có nghĩa là chết). Đức PHẬT là đấng Cứu tinh duy nhất Của vạn loài chúng sanh, là vị Thế Tôn cao cả, vị lương y siêu phàm trị bệnh tâm Hoàn cho nhân loại, đưa nhân loại từ phiền não đau thương đến an vui giải thoát. Nhưng đã là thầy thuốc thì kết quả còn phải do bệnh nhân có chịu uống thuốc hay không ? Sau khi đi sâu vào cuộc đời đức PHẬT, chúng ta cung kính cảm phục, tôn thờ đức PHẬT, vì đức PHẬT xuất hiện như một con người, chứ không phải như một Thượng đế hay một Thần linh, mặc dù Ngài là vị Boà TÁt hiện thân. Đạo PHẬT là đạo Nhân bản, đạo Của Tình thương, Của Trí tuệ, Của Dũng lực. Một đạo khẳng định khả năng Của con người dựa trên nghị lực Của bản thân, có thể đạt tời chân lý Của Cứu cánh và hạnh phúc Hoàn toàn. Đạo PHẬT là một đạo rất Người./-

    HUYNH TRƯỞNG CẦN SƯU TẦM ÔN TẬP VÀ NGHIÊN CỨU THÊM :

    1.- Lịch sử Đức PHẬT Thích ca (Trong PHẬT Pháp 4 cấp do T. Minh Châu, T. Thiên Ân, T. Đức Tâm, Chơn Trí biên soạn - BHDTƯ/GĐPTVN xuất bản).

    2.- Ánh đạo vàng Của Võ Đình Cường

    3.- Đạo PHẬT tập 2 Của huyền Chân (Đoàn PHẬT Học Đức Dục)

    4.- Lịch sử Đức Thích Ca Mâu Ni (PHẬT học Phổ thông khóa 1 Của ban Hoằng Pháp PGVN).

    5.- Chìa khóa học PHẬT CủaThanh Từ.

    6.- Khám phá vũ trụ và đời người CủaVương Quốc Đạt.

    7.- Đời đức PHẬT Thích Ca, một guông sáng cho nhân loại (Của nguyên Phương, trong báo Giác Ngộ số 1 - PL2512).

    8.- Đời đức Bổn sư Thích Ca Thế Tôn Của Tuyết Sơn (trong Viên âm số 114 - PL. 2515)

    9.- Đức PHẬT thế kỷ Của chúng ta Của T.Nhất Hạnh (Từ quang số 115).

    10.- Kinh Ưu Bà Tắc giới.

    CÂU HỎI THẢO LUẬN :

    1.- Hãy phân tích từng giai đoạn trong cuộc đời đức PHẬT để rút ra ý nghĩa cao cả về cuộc đời Của Ngài.

    2.- Huyền Chân có nói : "PHẬT Thích Ca và Đạo PHẬT sở dĩ có sức thuyết phục đối với chúng ta, chính vì PHẬT xuất hiện như một con người, chứ không phải như một Thần linhhay Thượng đế". Hãy dựa vào lịch sử đức PHẬT để chứng minh điều ấy.

    3.- Qua cuộc đời đức PHẬT ta có thể rút ra tinh thần bình đẳng trong PHẬT giáo không? Tinh thần đó như thé nào ?

    4.- Khi vưà ra đời, đức PHẬT ứng khẩu thốt lên câu nói : "Thiên thượng, Thiên hạ duy ngã độc tôn". Như vậy có phải đức PHẬT đã cho mình là đấng tối thượng không ?Hơn nữa giáo pháp Của PHẬT chủ trương "vô ngã" như vậy câu nói đó có mâu thuẩn không ? Hảy giải nghi. "Lạ thay" : "Tất cả chúng sanh đều có đủ trí tuệ, đức tướng Của PHẬT. Chỉ do vì vọng tưởng, chấp trước

     

    Thông tin liên hệ

    CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT - THƯƠNG MẠI VÀ TTNT KIM DUY PHÁT
    Địa chỉ: 20/31, TMT 02, P. TRUNG MỸ TÂY, Q12-TPHCM
    Điện thoại: 08.38839484
    Email: kimduyphat@gmail.com

    PHÒNG KINH DOANH VÀ TƯ VẤN NỘI THẤT, SÀN GỖ CÔNG NGHIỆP, SÀN GỖ TỰ NHIÊN, BÀN THỜ GIA TIÊN, TRANG TRÍ NỘI THẤT
    Yahoo: kimduyphat
    Điện thoại: 38839484
    Di động: 0918.171.148

    TƯ VẤN KHÁCH HÀNG PHONG THỦY

    (PTS: Minh Trí)
    Điện thoại:(Quí khách hàng cần liên hệ xin để lại thông tin, gửi vào mail.)
    Email:phongthuyhuyenkhong58

    @yahoo.com.vn

    Hỗ trợ trực tuyến

    • Duy Phat
    • Duy Phat
    logo slice dat Quang cao logo Slice Slice pt chay HUYEN KHONG QCAO SLICE qc slice kosmos Qc ban tho gia tien slide Qc phải go tu nhien scroll

    Lịch vạn niên - Hôm nay